Miễn dịch thụ động trước đây bằng kháng thể sẵn có
Respigam, một globulin miễn dịch truyền tĩnh mạch chứa hàm lượng cao kháng thể trung hòa RSV, là một trong những biện pháp dự phòng đầu tiên được phê duyệt vào thập niên 1990.
Thuốc cung cấp miễn dịch thụ động bằng cách đưa kháng thể trực tiếp vào dòng máu, giúp giảm mức độ nặng của nhiễm RSV ở trẻ sinh non và trẻ mắc bệnh phổi mạn tính. Tuy nhiên, việc sử dụng bị hạn chế do yêu cầu truyền tĩnh mạch, nguy cơ tác dụng phụ và chi phí cao.
Palivizumab, một kháng thể đơn dòng đặc hiệu với RSV được thiết kế để trung hòa virus, được phê duyệt năm 1998.
Palivizumab được tiêm bắp, giúp thuận tiện hơn cho sử dụng rộng rãi, tuy nhiên cần 5 liều tiêm mỗi tháng trong suốt mùa RSV, chi phí rất cao, nên chỉ được sử dụng hạn chế — chủ yếu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ rất cao tại các quốc gia có thu nhập cao.
Hai kháng thể đơn dòng RSV khác — motavizumab và suptavumab — đã được thử nghiệm lâm sàng nhưng không được thương mại hóa. Motavizumab bị dừng do phản ứng da; suptavumab thất bại do không bảo vệ được chống lại chủng RSV-B, vốn có biến dị di truyền trong dòng virus lưu hành chủ yếu.
Nirsevimab: Đặc điểm, thành phần, liều dùng, đường dùng và bảo quản
Nirsevimab (tên thương mại Beyfortus™, AstraZeneca/Sanofi) là kháng thể đơn dòng tái tổ hợp tác dụng kéo dài, được tiêm một liều duy nhất bằng đường tiêm bắp để bảo vệ trẻ sơ sinh trong mùa RSV đầu tiên.
Thời gian bán thải của nirsevimab được kéo dài nhờ thay thế ba acid amin trong vùng Fc, đạt 63–73 ngày ở trẻ sơ sinh.
Nirsevimab gắn vào các epitope bảo tồn cao của protein F của RSV, ở dạng tiền hợp nhất (prefusion), giúp khóa protein này và ngăn virus hòa màng xâm nhập tế bào chủ. Sau khi tiêm, nồng độ đỉnh huyết thanh đạt được trong vòng 7 ngày.
Dạng bào chế: ống tiêm đóng sẵn dùng một lần, với hai hàm lượng:
- 50 mg/0,5 mL
- 100 mg/mL
Bảo quản ở 2–8°C, phải sử dụng trong vòng 8 giờ sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh.
Thuốc được tiêm bắp, với liều khuyến cáo:
- 50 mg cho trẻ <5 kg
- 100 mg cho trẻ ≥5 kg.
Hiệu quả của Nirsevimab
Trong thử nghiệm lâm sàng Pha 2b trên trẻ sinh non mức độ trung bình, tất cả trẻ được tiêm một liều duy nhất 50 mg nirsevimab.
Tuy nhiên, ở nhóm trẻ ≥5 kg, nồng độ thuốc trong huyết tương và hiệu quả bảo vệ thấp hơn.
Do đó, trong thử nghiệm Pha 3 trên trẻ đủ tháng và trẻ sinh non muộn, hai liều khác nhau được sử dụng:
- 50 mg cho trẻ <5 kg,
- 100 mg cho trẻ ≥5 kg.
Kết quả gộp từ Pha 2b và Pha 3 cho thấy:
- Hiệu lực bảo vệ 77,3% (95% CI: 50,3–89,7) chống lại viêm đường hô hấp dưới do RSV (RSV-LRTI) cần nhập viện,
- Hiệu lực 79,5% (95% CI: 65,9–87,7) chống lại RSV-LRTI cần khám y tế.
Phân tích gộp cũng cho thấy nirsevimab làm giảm:
- 43,8% (95% CI: 18,8–61,1) nhập viện do mọi nguyên nhân bệnh hô hấp,
- 35,4% (95% CI: 21,5–46,9) các trường hợp LRTI có khám y tế,
- 41,9% (95% CI: 25,7–54,6) các ca LRTI ngoại trú,
- Giảm 23,6% (95% CI: 3,8–39,3) sử dụng kháng sinh.
Tất cả các kết quả này được theo dõi đến 151 ngày (tức khoảng 5 tháng).
Tuy nhiên, dữ liệu dược động học và lâm sàng tại Nam Phi (nơi có đợt bùng phát RSV ngoài mùa) cho thấy hiệu quả bảo vệ có thể kéo dài hơn 5 tháng, mặc dù nghiên cứu không đủ mạnh để khẳng định chắc chắn (HR: 0,491; 95% CI: 0,158–1,523).
Nguồn: WHO, CDC.
Phòng khám Y học Nhiệt đới Đà Nẵng | Chuyên khoa Nội – Viêm gan và Ký sinh trùng

Phụ trách chuyên môn: Ths. Bs. Trần Thị Kim Anh, Giảng viên Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng.
Địa chỉ: Phường Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng
Hotline tư vấn: 0784 468 255
Website: https://yhocnhietdoi.vn
Thời gian làm việc: Thứ Hai – Chủ Chật, 08h00 – 20h00
